Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

Làm sao để kể một câu chuyện?

Cecrops, vị vua đầu người mình rắn của Attica, đã chủ trì một cuộc thi dành cho các vị thần để xem ai sẽ là người bảo hộ cho thành phố sôi động và thịnh vượng của ông. Poseidon và Athena ai cũng muốn giành chiến thắng, và điều đó được quyết định bằng việc người nào mang đến món quà tốt nhất cho thành phố thì sẽ giành được sự cung phụng của dân chúng. Poseidon nện cây đinh ba quyền lực của mình xuống mặt đất, chỗ đó hóa thành một dòng sông. Cư dân của Cecrops vui mừng phấn khởi cho đến khi họ phát hiện ra đó là một dòng sông mặn chát. Còn Athena mang đến món quà là một hạt giống được gieo xuống mà mọc thành cây ô-liu, mang đến thức ăn, bóng mát, và cả dầu để đốt. Cecrops đã chọn Athena là người chiến thắng, và thành phố sau đó được biết đến với cái tên Athens. Poseidon, kẻ thất bại, đã nhấn chìm Attica xuống một vùng biển mà ngày nay chúng ta được gọi là Erekhtheis.


Q - con gái tôi, chỉ một tuần sau khi bước sang tuổi 12, đã kể tôi nghe câu chuyện này trước Erectheum, một ngôi đền ở phía bắc thành Acropolis tại Athens nơi diễn ra cuộc chiến huyền thoại giữa Poseidon và Athena. Một cây ô-liu có sức sống mạnh mẽ trên nền những tàn tích, những chiếc lá của nó xum xuê, nhỏ và sắc nhọn như cây giáo của một trung đoàn. Một dấu hiệu bằng một vài ngôn ngữ cho biết rằng loài cây đặc biệt này được trồng vào năm 2010 nhằm tỏ lòng ca ngợi đến nữ thần Athena đã giành được thành phố. Thành Acropolis nằm trên cao tại trung tâm thành phố Athens, có thể nhìn được hàng dặm về phía tây, nơi đất liền gặp đại dương, xa hơn là đại dương gặp bầu trời. Tôi tưởng tượng những người Hy Lạp cổ đã đứng đây để quan sát những con tàu chiến với binh lính và tham vọng đến đất nước họ.

Tôi cảm thấy có một chút thất vọng vì cây ô-liu đó không phải được trồng bởi một vị thần nào đó và 2500 năm trước. Cây ô-liu liệu có sống lâu đến thế không? Có gì tồn tại lâu thế được không?

Những câu chuyện thì chắc chắn có. M - anh trai của Q từng mê đắm những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp - nó đã đọc đi đọc lại những trang truyện về Percy Jackson - nhưng lâu rồi nó không còn đọc nữa để học nhạc và ngoại ngữ. Dù vậy, những câu chuyện này đã ám ảnh Q. Nó có thể kể cho bạn về nguồn gốc và các sự kiện quan trọng của tất cả các vị thần Olympic, và nó có cả những sở thích của riêng mình. Mùa Halloween năm trước (và có lẽ cũng là mùa Halloween cuối cùng nó tham gia), nó hóa trang thành Artemis, nữ thần săn bắn, người bảo vệ những phụ nữ trẻ, và là nguồn cảm hứng bất tận cho những cô gái mạnh mẽ phải thương thảo với sự thật rách rưới của những chàng trai trẻ.  

Q thích nhất Athena. Bà là nữ thần của rất nhiều điều thú vị: trí tuệ, mưu kế, toán học, chiến lược, và cả chiến thắng trong các cuộc chiến. (Chiến tranh có thể thuộc về Ares, nhưng chiến thắng thuộc về Athena). Sức mạnh của bà không đến từ sấm chớp, sức mạnh tàn bạo hay thanh gươm dính máu, mà từ trí thông minh, suy nghĩ và hành động. Poseidon xuyên thủng mặt đất với một thanh gươm; còn Athena thì nhẹ nhàng gieo một hạt giống.

Tôi hiểu được tình yêu của Q đối với những câu chuyện Hy Lạp cổ đại. Thần thoại mê hoặc chúng ta vì chúng đưa ra những lời giải thích. Thế giới đã (và đang) là một nơi khó sống, với sự vô nghĩa và tàn bạo, và chúng ta là những sinh vật có ý thức. Tại sao người Attica hay phải chịu lũ lụt? Poseidon đã nổi giận vì không giành được Athens. Làm thế nào mà thế giới trở thành như chúng ta thấy ngày nay? Hãy kể câu chuyện về Gaia và Uranus và các titan. Những người mà chúng ta yêu thương sẽ đi về đâu khi họ chết đi? Chúng ta được an ủi phần nào vì họ không mất đi mãi mãi; họ chỉ chờ chúng ta đi qua dòng sông tăm tối để đến với họ. Liệu phụ nữ và các cô gái có thể mạnh mẽ như đàn ông và các cậu con trai hay không? Hãy xem lại cái tên của thành phố vĩ đại kia. Liệu có thể sống trong một thế giới mà bị phụ thuộc vào những vị thần nhỏ bé nhưng quyền năng - những người có thể ở bên cạnh bạn sau những di tích? Hy vọng thế - sự thay thế vô nghĩa và trống rỗng dường như không thể chịu đựng được.

Thế giới có thể vẫn khó sống và những lời giải thích của chúng ta thì đã thay đổi (giờ thì ai cũng nghĩ rằng vũ trụ được hình thành từ một vụ nổ ầm ĩ) nhưng sự cần thiết phải giải thích bằng những câu chuyện thì không. Chúng ta là những người kể chuyện và người tiêu dùng cũng yêu thích những nhân vật huyền thoại, người Hy Lạp cổ đã biết cách tạo nên chúng: đố kỵ, dũng mãnh, hão huyền, trong những cuộc chiến dai dẳng. Chúng ta có thể không còn tin rằng Hades cai quản địa ngục còn Zeus thống trị trên đỉnh Olympus, nhưng chúng ta sẽ luôn chấp nhận những câu chuyện.

Ngày hôm sau, chúng tôi bắt taxi tới đền thờ Poseidon tại một thị trấn tên là Sounion cách Athens 1 giờ đi. Anh tài xế chỉ biết chút tiếng Anh, nên chuyến đi khá dài và im lặng, lần theo những dòng chữ cổ của các thị trấn nhỏ dọc bờ biển. Đó là một ngày mát trời, bờ biển thì vắng tanh. M nghe nhạc. Q thì cố gắng để không bị say xe. Mẹ của chúng ngồi giữa trong tư thế sẵn sàng chăm sóc. Tôi ngồi trên với tài xế. Có vẻ anh ta nghĩ rằng những resort mới lấp lánh bên bờ biển này sẽ hấp dẫn chúng tôi, và anh ta nói về mỗi cái mà chúng tôi đi qua.

Rồi cũng tới. Đền Poseidon tọa lạc trên một vách đá nhìn ra phía biển Aegean, không có gì ngoài sự tráng lệ tuyệt mỹ. Vì đây không phải là nước Mỹ, chúng tôi có thể đi thẳng tới vách đá mà không có lan can hay dây thừng bảo vệ. (Chúng tôi có thể dễ dàng hiến thân mình cho Poseidon nếu chẳng may sảy chân). Ngôi đền hiện nay chỉ còn là hàng dài những chiếc cột không còn khép kín, nhưng đủ cho chúng ta thấy được cuộc gặp hoàn hảo giữa nó và những câu chuyện. Nếu tôi là thần biển (hay một vị thần nào đó tương tự), tôi sẽ muốn tượng đài của tôi được dựng ngay tại đây, như thế này. Chúng tôi đi bộ trên những con đường, nhặt vài hòn đã cho vào túi, và lặng ngắm nước biển dội sóng không ngừng vào các vách đá. M và Q leo lên tàn tích của một bức tường đá khổng lồ từng là thành của một thị trấn nhỏ nơi mà hơn 2000 năm trước những con tàu buôn đã được làm đi làm lại. Chúng tôi đùa rằng có thể Athena sẽ chẳng thể nào chiến thắng được Poseidon nếu ngôi đền này đạt giải khuyến khích.

Tôi đứng một lúc bên bờ biển và ngạc nhiên rằng một đường thẳng có thể được rút ra từ nơi này qua nhiều năm tới tận đáy kệ sách trong phòng của Q.

Hoặc có thể điều đó chẳng đáng ngạc nhiên. Sau cùng, bọn trẻ, bắt đầu bằng những câu chuyện được kể bởi cha mẹ chúng - người cha sắp mất mọi thứ, người mẹ thì chưa bao giờ trải qua một trận chiến mà bà không muốn - và biểu lộ ra như một người được sống trong những câu chuyện thần thoại viết lại chúng, để tự giải thích về toàn bộ sự sống. Tôi đã kể câu chuyện của Q, như tôi đang làm bây giờ, rất nhiều lần. Trong câu chuyện của tôi, Q thực sự giống như Athena - mạnh mẽ, thông minh, tập trung, siêng năng, và một chút bướng bỉnh, điềm tĩnh. Tôi muốn câu chuyện này được lan truyền, và được những người gặp nó kể đi kể lại. Tôi muốn nó tin vào điều đó, để nó có thể biến thành sự thực.
Và rồi cha mẹ sẽ trở thành những câu chuyện được kể bởi lũ trẻ. Tôi trăn trở một điều rằng khi tôi và vợ tôi đi từ sự thật vào thần thoại, Q sẽ nói gì trước đài tưởng niệm của chúng tôi.

Anh tài xế ra dấu rằng đã đến lúc phải đi, và chúng tôi gửi lại cái nhìn cuối cùng để những ký ức được lưu lại. Tôi biết ơn về một chút yên lặng ở phía trước. Tôi muốn nghĩ về việc làm sao để kể cho bạn mọi thứ trên đời.

-----------

Bài dịch trên trang Medium.com:
https://medium.com/@dorsalstream/how-to-tell-a-story-60ab982a1b95?OC=true

Hy vọng nhận được sự góp ý từ bạn đọc.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Thuyết vạn vật: Những quan niệm về vũ trụ

Vào năm 340 TCN, Aristotle trong cuốn sách của ông "Trên thiên đường" (On the Heavens) đã đưa ra được hai luận cứ về việc ông tin rằng Trái Đất giống một quả bóng tròn hơn là một cái đĩa phẳng. Đầu tiên, ông nhận ra rằng, phần che khuất của mặt trăng là do Trái Đất đi dần đến giữa mặt trời và mặt trăng. Bóng của Trái Đất trên mặt trăng luôn luôn tròn, điều này chỉ đúng khi Trái Đất có hình cầu. Nếu Trái Đất là một cái đĩa phẳng, thì bóng của nó phải kéo dài và có hình elip, trừ khi phần bị che khuất luôn luôn xảy ra ở thời điểm mặt trời chiếu thẳng vào trung tâm chiếc đĩa.


Thứ hai, người Hy Lạp cổ đã biết được từ những chuyến đi của họ rằng sao Bắc Đẩu xuất hiện thấp hơn trên bầu trời khi được nhìn từ phía nam so với khi được nhìn từ những vùng phía bắc. Từ sự khác nhau giữa vị trí xuất hiện của sao Bắc Đẩu tại Hy Lạp và Ai Cập, Aristotle đã đưa ra một giả định rằng khoảng cách xung quanh Trái Đất là 4 trăm nghìn stadia. Không biết chính xác độ dài của một stadia là bao nhiêu, nhưng có thể vào khoảng 100 yards. Điều này khiến cho giả định của Aristotle gấp đôi con số được chấp nhận hiện nay.

Người Hy Lạp cổ thậm chí còn đưa ra một luận cứ thứ ba rằng Trái Đất hình cầu, cho lý do tại sao người ta lại thấy cánh buồm của một con thuyền trước tiên khi nó đi qua đường chân trời và sau đó mới thấy thân tàu. Aristotle nghĩ rằng Trái Đất đứng im và mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và các ngôi sao chuyển động theo quỹ đạo tròn xung quanh Trái Đất. Ông tin vào điều này bởi vì ông cảm thấy, theo những lý do huyền bí nào đó, rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và chuyển động tròn là chuyển động hoàn hảo nhất.

Quan niệm này được phát triển bởi Ptolemy vào thế kỷ đầu tiên sau công nguyên thành một mô hình vũ trụ học hoàn chỉnh. Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, bao quanh bởi 8 khối cầu bao gồm mặt trăng, mặt trời, các ngôi sao và 5 hành tinh được biết đến vào thời điểm đó: sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ. Các hành tinh này tự chúng chuyển động theo những vòng tròn nhỏ gắn với những khối cầu tương ứng giải thích cho đường đi phức tạp được quan sát của chúng trên bầu trời. Ngoài cùng quả cầu mang theo cái gọi là những ngôi sao cố định mà luôn luôn ở cùng một vị trí tương đối với mỗi cái khác nhưng chúng cùng xoay trên bầu trời. Những gì xa hơn cả quả cầu cuối cùng thì không bao giờ thấy rõ, nhưng chắc chắn rằng nó không phải là phần vũ trụ quan sát được của con người.

Mô hình của Ptolemy cung cấp một hệ thống chính xác đáng tin cậy cho việc tiên đoán vị trí của những thiên thể trên bầu trời. Nhưng để tiên đoán những vị trí này một cách chính xác, Ptolemy phải làm một giả định rằng mặt trăng đi theo đường mà có lúc mang nó gần Trái Đất hơn tới 2 lần ở những thời điểm khác nhau. Và điều đó có nghĩa là mặt trăng có lúc xuất hiện to gấp 2 lần bình thường. Ptolemy nhận thức được lỗ hổng này tuy nhiên mô hình của ông vẫn được chấp nhận dù nó chưa mang tính phổ quát. Nó phù hợp với Kinh Thánh và được chấp nhận bởi nhà thờ Thiên Chúa như là bức tranh của vũ trụ. Nó có lợi thế lớn là để lại nhiều không gian bên ngoài của những ngôi sao cố định cho thiên đường và địa ngục.

Tuy nhiên, một mô hình đơn giản hơn, được công bố bởi một linh mục người Hà Lan vào năm 1514, Nicholas Copernicus. Đầu tiên, vì sợ bị buộc tội dị giáo, Copernicus đã công bố mô hình của ông một cách bí mật không công khai danh tính. Ý tưởng của ông là mặt trời đứng cố định ở trung tâm còn Trái Đất và các hành tinh khác thì chuyển động theo quỹ đạo tròn quanh mặt trời. Đáng buồn cho Copernicus, gần một thế kỷ trôi qua trước khi ý tưởng của ông được đưa ra một cách nghiêm túc. Sau đó 2 nhà thiên văn học - Johannes Kepler (Đức) và Galileo Galilei (Italy) - đã bắt đầu công khai ủng hộ lý thuyết của Copernicus, mặc dù thực tế rằng các quỹ đạo mà ông tiên đoán hoàn toàn khong trùng khớp với những gì họ quan sát được. Cái chết của lý thuyết Aristotelian-Ptolemaic xảy ra vào năm 1609. Vào năm đó Galileo đã bắt đầu quan sát bầu trời đêm với một chiếc kính thiên văn, thiết bị chỉ vừa mới được phát minh.

Khi ông quan sát sao Mộc, Galileo thấy rằng nó đi kèm với một vài vệ tinh nhỏ, hoặc là các mặt trăng quay quanh nó. Điều này cho thấy rằng không phải cái gì cũng trực tiếp quay quanh Trái Đất như Aristotle và Ptolemy đã nghĩ. Dĩ nhiên, vẫn có thể tin rằng Trái Đất  đứng im ở trung tâm của vũ trụ, nhưng những vệ tinh của sao Mộc chuyển động theo những đường hết sức phức tạp quanh Trái Đất, chứng tỏ rằng chúng có quỹ đạo quanh sao Mộc. Tuy nhiên, lý thuyết của Copernicus vẫn đơn giản hơn nhiều.

Ở cùng thời điểm, Kepler đã sửa đổi lý thuyết của Copernicus, cho rằng các hành tinh không chuyển động theo quỹ đạo tròn mà theo hình elip. Ngày nay những tiên đoán này trùng khớp với các quan sát. Theo như Kepler đã quan tâm, quỹ đạo elip chỉ đơn thuần là một giả thuyết - và khá mâu thuẫn bởi vì đường elip rõ ràng là kém hoàn hảo hơn đường tròn. Được khám phá hầu hết một cách ngẫu nhiên, rằng quỹ đạo elip trùng khớp với những quan sát, ông vẫn không thể chứng minh được quan niệm của mình rằng các hình tinh được tạo nên để quay quanh mặt trời bởi từ trường.

Một sự giải thích khác được đưa ra nhiều năm sau đó, vào năm 1687, khi Newton công bố tác phẩm "Principis Mathematica Naturalis Causae" (Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên). Đây có lẽ là công trình đơn lẻ quan trọng nhất từng được công bố trong ngành khoa học vật lý. Trong đó, Newton không chỉ đưa ra lý thuyết về việc các vật thể chuyển động trong thời gian và không gian như thế nào, mà còn phát triển toán học cần thiết cho việc phân tích những chuyển động đó. Ngoài ra, Newton còn đưa ra định đề về luật vạn vật hấp dẫn. Luật này nói rằng mỗi vật thể trong vũ trụ đều bị hấp dẫn về phía vật thể khác bởi một lực mạnh hơn, vật thể càng lớn và càng gần nhau hơn. Đó là cùng một lực dẫn tới việc các vật thể đều rơi xuống mặt đất. Câu chuyện Newton bị quả táo rơi trúng đầu hầu như là ngụy tạo. Tất cả những gì Newton từng nói là ý tưởng về trọng lực đến với ông khi ông ngồi trong tư thế chiêm nghiệm, và khiến cho quả táo rơi xuống.

Newton tiếp tục cho thấy rằng, theo như quy luật ông tìm ra, trọng lực dẫn đến việc mặt trăng di chuyển theo quỹ đạo hình elip xung quanh Trái Đất và Trái Đất cũng như các hành tinh khác đi theo đường elip xung quanh mặt trời. Mô hình Copernicus đã bác bỏ quả cầu thiên thể của Ptolemy, và với họ ý tưởng rằng vũ trụ có một ranh giới tự nhiên. Những ngôi sao cố định không xuất hiện để thay đổi vị trí tương đối như Trái Đất quay quanh mặt trời. Do đó nó trở nên tự nhiên để đưa ra giả thiết rằng các ngôi sao cố định đó là những vật thể giống như mặt trời của chúng ta nhưng xa hơn. Điều này làm giấy lên một vấn đề. Newton nhận ra rằng, theo như lý thuyết về lực hấp dẫn, thì các ngôi sao lẽ ra phải hấp dẫn lẫn nhau; bởi vậy dường như chúng không thể giữ nguyên trạng thái bất động. Liệu chúng có thể rơi vào nhau tại một điểm nào đó không?

Trong một bức thư năm 1691 gửi tới Richard Bently, một nhà tư tưởng hàng đầu khác cùng thời, Newton đã đưa ra luận cứ rằng điều này chỉ thực sự xảy ra nếu số lượng ngôi sao trong vũ trụ là có hạn. Nhưng mặt khác, ông kết luận rằng nếu có vô số các ngôi sao phân tán ít nhiều có sự thống nhất trong không gian vô tận., điều này sẽ không xảy ra bởi vì sẽ không có bất kỳ điểm trung tâm nào cho chúng rơi xuống. Lập luận này là minh chứng cho những cạm bẫy mà con người có thể gặp phải khi nói về sự vô tận.

Trong một vũ trụ vô tận, tất cả các điểm đều có thể được xem như là trung tâm vì chúng có vô số các ngôi sao ở các phía. Cách tiếp cận chính xác, chỉ được thừa nhận rất lâu sau đó, đó là xem xét trường hợp hữu hạn mà trong đó các ngôi sao đều hút nhau. Và người ta thắc mắc mọi thứ sẽ thay đổi như thế nào nếu có thêm những ngôi sao phân tán một cách thống nhất ở ngoài khu vực này. Theo như định luật của Newton, các ngôi sao được thêm vào sẽ không tạo ra sự khác biệt nào đến những ngôi sao cũ, và bởi vậy các ngôi sao vẫn sẽ rơi xuống nhanh như thường. Chúng ta có thể thêm bao nhiêu ngôi sao tùy thích, thì nó vẫn luôn tự rơi xuống chính nó. Ngày nay chúng ta đã biết rằng có thể có một mô hình tĩnh vô hạn của vũ trụ nơi mà luôn tồn tại lực hấp dẫn.

Trong một phản chiếu thú vị về xu hướng chung của tư tưởng trước thế kỷ 20 rằng không ai biết được vũ trụ đang mở rộng ra hay thu hẹp lại. Nhìn chung người ta chỉ tin rằng vũ trụ tồn tại mãi mãi trong một trạng thái không đổi hoặc là nó được tạo ra ở một thời điểm hữu hạn trong quá khứ, ít nhiều như chúng ta quan sát được ngày hôm nay. Một phần, điều này cũng có thể là do xu hướng của con người muốn tin vào những sự thật vĩnh cửu cũng như sự thoải mái mà họ tìm thấy trong tư tưởng mà thậm chí họ có thể già rồi chết đi, nhưng vũ trụ thì vẫn không thay đổi.

Ngay cả những người công nhận định luật vạn vật hấp dẫn của Newton cho thấy rằng vũ trụ có thể không đứng im cũng không nghĩ rằng nó còn có thể mở rộng. Thay vào đó, họ cố gắng thay đổi định luật đó bằng cách khiến cho lực hấp dẫn đẩy ra ở những khoảng cách rất xa. Điều này không ảnh hưởng nhiều đến những tiên đoán của họ về sự chuyển động của các hành tinh. Nhưng nó sẽ cho phép một sự phân tán vô hạn của các ngôi sao nhằm duy trì sự cân bằng, cùng với các lực hấp dẫn giữa các ngôi sao gần nhau được cân bằng bởi lực đẩy từ những ngôi sao ở xa hơn.

Tuy nhiên, ngày nay chúng ta tin rằng sự cân bằng đó là điều không chắc chắn. Nếu các ngôi sao ở một số nơi tiến gần lại một chút so với ngôi sao khác, lực hấp dẫn giữa chúng sẽ mạnh hơn và sẽ chiếm ưu thế hơn so với lực đẩy. Điều này có nghĩa là những ngôi sao sẽ tiếp tục tiến gần về phía nhau. Hay nói cách khác, nếu ngôi sao ở xa hơn, lực đẩy cũng sẽ chiếm ưu thế hơn và khiến chúng ra xa hơn nữa.

Một phản đối khác với việc vũ trụ đứng im vĩnh cửu được cho là của triết gia người Đức Heinrich Olbers. Thực tế, những người cùng thời với Newton đều nhận ra vấn đề này, và bài viết của Olbers năm 1823 không phải lần đầu tiên đưa ra những luận cứ hợp lý cho vấn đề này. Tuy nhiên đó là bài viết đầu tiên được công nhận rộng rãi. Một khó khăn nữa là trong vũ trụ đứng im vĩnh cửu thì hầu như mỗi đường mỗi cạnh đều đều kết thúc trên bề mặt của một ngôi sao. Bởi vậy mà chúng ta nghĩ rằng bầu trời lúc nào cũng sáng, ngay cả vào ban đêm. Lập luận ngược của Olbers chỉ ra rằng ánh sáng từ những ngôi sao ở xa sẽ bị mờ đi bởi vật chất can thiệp. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra, thứ vật chất can thiệp đó cuối cùng sẽ nóng lên cho đến khi nó phát sáng như những ngôi sao.

Cách duy nhất để tránh khỏi kết luận rằng toàn bộ bầu trời đêm lẽ ra phải sáng như bề mặt của mặt trời đó là nếu những ngôi sao không sáng mãi mà chỉ sáng ở một khoảng thời gian nhất định trong quá khứ. Trong trường hợp đó, vật hấp thụ có thể chưa nóng lên, hoặc ánh sáng từ những ngôi sao xa chưa tiến được tới chúng ta. Và điều đó mang đến cho chúng ta câu hỏi rằng đâu là nguyên nhân khiến cho các ngôi sao phát sáng ngay từ đầu.

Khởi thủy của vũ trụ

Khởi thủy của vũ trụ, tất nhiên, đã được tranh cãi trong một thời gian dài. Theo như những quan niệm vũ trụ học đầu tiên trong truyền thống người Do Thái, Cơ Đốc, Hồi Giáo, vũ trụ bắt đầu ở một thời điểm xác định và không quá xa trong quá khứ. Một luận cứ cho sự khởi đầu này đó là cảm giác cần thiết phải có một nguyên nhân đầu điên để giải thích cho sự tồn tại của vũ trụ.

Một luận cứ khác được đưa ra bởi thánh Augustine trong cuốn sách của ông, "Thành phố của Chúa" (The City of God). Ông chỉ ra rằng sự văn minh đang phát triển, và chúng ta nhớ được ai là người thực hiện hay phát triển đó. Do vậy con người, và có lẽ là cả vũ trụ, không thể tồn tại lâu như thế. Nếu không thì chúng ta đã có thể phát triển hơn những gì chúng ta có.

Theo như Sách Sáng Thế, thánh Augustine đã chấp nhận một ngày vào năm 5000 trước Công Nguyên là ngày bắt đầu của vũ trụ. Thú vị là nó không quá xa so với thời điểm kết thúc Kỷ Băng Hà cuối cùng, khoảng 10000 năm trước Công Nguyên, khi mà nên văn minh mới thực sự bắt đầu. Mặt khác, Aristotle và phần lớn các nhà triết học Hy Lạp cổ, không thích quan niệm về sự hình thành vũ trụ hầu hết được tạo nên bởi Chúa Trời. Do đó họ tin rằng loài người và thế giới tồn tại xung quanh họ sẽ tồn tại, mãi mãi. Họ đã xem xét luận cứ về sự phát triển, đã được mô tả trước đó, và trả lời bằng cách có những trận lũ lụt định kỳ hoặc những thảm họa nào đó liên tục đưa loài người về điểm khởi đầu của văn minh.

Khi hầu hết mọi người đều tin rằng vũ trụ về cơ bản là tĩnh và không thay đổi, thì nghi vấn về việc nó có bắt đầu hay không mới thực sự là vấn đề của thần học hay siêu hình học. Chúng ta có thể giải thích cho những gì quan sát được bằng cả hai cách. Vũ trụ tồn tại vĩnh cửu, và nó cũng được đặt trong một chuyển động ở một thời gian nhất định theo một cách như thể là nó tồn tại mãi mãi. Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã tiến hành một cuộc quan sát dưới mặt đất cho thấy rằng dù bạn nhìn ở bất cứ đâu, các ngôi sao xa vẫn luôn di chuyển nhanh chóng ra xa khỏi chúng ta. Hay nói cách khác, vũ trụ đang mở rộng dần. Điều này có nghĩa là lúc ban đầu các vật thể sẽ không gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời điểm khoảng mười hoặc hai mươi nghìn triệu năm trước đây khi mà chúng ở chính xác một chỗ.

Phát kiến này cuối cùng cũng đã đưa ra câu hỏi về nguồn gốc của vũ trụ vào lĩnh vực khoa học. Những quan sát của Hubble cho thấy có một thời điểm được gọi là vụ nổ lớn (big bang) khi vũ trụ còn vô cùng nhỏ bé và dày đặc. Nếu có những sự kiện nào khác xảy ra sớm hơn thời điểm này, thì chúng cũng không ảnh hưởng gì đến những gì xảy ra ở thời điểm hiện tại. Sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua bởi vì sẽ không có kết quả quan sát nào cả.

Chúng ta có thể nói rằng thời gian có sự khởi đầu từ vụ nổ lớn, theo nghĩa đơn giản là thời gian trước đó không thể xác định được. Cũng nên nhấn mạnh rằng sự khởi đầu về thời gian này rất khác so với những gì được xem xét trước đây. Không có một sự cần thiết vật chất nào cho sự khởi đầu. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng Chúa đã tạo ra vũ trụ ở bất kỳ thời điểm nào trong quá khứ. Mặt khác, nếu vũ trụ mở rộng ra, có thể có lý do để giải thích cho việc tại sao vũ trụ phải có sự bắt đầu. Chúng ta vẫn có thể tin rằng Chúa tạo ra vũ trụ ngay từ vụ nổ lớn. Ngài thậm chí còn có thể đã tạo ra nó ở một thời điểm sau đó theo một cách khiến nó trông như thể là đã có một vụ nổ lớn. Một vũ trụ mở rộng không thể ngăn cản đấng sáng thế, nhưng nó đặt ra những giới hạn khi Ngài có thể đã thực hiện công việc của mình.

--------

Bài dịch phần 1 "Thuyết vạn vật" của Stephen Hawking, có thể còn nhiều thiếu sót, hy vọng nhận được góp ý từ bạn đọc.
Bản gốc: