Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

Làm sao để kể một câu chuyện?

Cecrops, vị vua đầu người mình rắn của Attica, đã chủ trì một cuộc thi dành cho các vị thần để xem ai sẽ là người bảo hộ cho thành phố sôi động và thịnh vượng của ông. Poseidon và Athena ai cũng muốn giành chiến thắng, và điều đó được quyết định bằng việc người nào mang đến món quà tốt nhất cho thành phố thì sẽ giành được sự cung phụng của dân chúng. Poseidon nện cây đinh ba quyền lực của mình xuống mặt đất, chỗ đó hóa thành một dòng sông. Cư dân của Cecrops vui mừng phấn khởi cho đến khi họ phát hiện ra đó là một dòng sông mặn chát. Còn Athena mang đến món quà là một hạt giống được gieo xuống mà mọc thành cây ô-liu, mang đến thức ăn, bóng mát, và cả dầu để đốt. Cecrops đã chọn Athena là người chiến thắng, và thành phố sau đó được biết đến với cái tên Athens. Poseidon, kẻ thất bại, đã nhấn chìm Attica xuống một vùng biển mà ngày nay chúng ta được gọi là Erekhtheis.


Q - con gái tôi, chỉ một tuần sau khi bước sang tuổi 12, đã kể tôi nghe câu chuyện này trước Erectheum, một ngôi đền ở phía bắc thành Acropolis tại Athens nơi diễn ra cuộc chiến huyền thoại giữa Poseidon và Athena. Một cây ô-liu có sức sống mạnh mẽ trên nền những tàn tích, những chiếc lá của nó xum xuê, nhỏ và sắc nhọn như cây giáo của một trung đoàn. Một dấu hiệu bằng một vài ngôn ngữ cho biết rằng loài cây đặc biệt này được trồng vào năm 2010 nhằm tỏ lòng ca ngợi đến nữ thần Athena đã giành được thành phố. Thành Acropolis nằm trên cao tại trung tâm thành phố Athens, có thể nhìn được hàng dặm về phía tây, nơi đất liền gặp đại dương, xa hơn là đại dương gặp bầu trời. Tôi tưởng tượng những người Hy Lạp cổ đã đứng đây để quan sát những con tàu chiến với binh lính và tham vọng đến đất nước họ.

Tôi cảm thấy có một chút thất vọng vì cây ô-liu đó không phải được trồng bởi một vị thần nào đó và 2500 năm trước. Cây ô-liu liệu có sống lâu đến thế không? Có gì tồn tại lâu thế được không?

Những câu chuyện thì chắc chắn có. M - anh trai của Q từng mê đắm những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp - nó đã đọc đi đọc lại những trang truyện về Percy Jackson - nhưng lâu rồi nó không còn đọc nữa để học nhạc và ngoại ngữ. Dù vậy, những câu chuyện này đã ám ảnh Q. Nó có thể kể cho bạn về nguồn gốc và các sự kiện quan trọng của tất cả các vị thần Olympic, và nó có cả những sở thích của riêng mình. Mùa Halloween năm trước (và có lẽ cũng là mùa Halloween cuối cùng nó tham gia), nó hóa trang thành Artemis, nữ thần săn bắn, người bảo vệ những phụ nữ trẻ, và là nguồn cảm hứng bất tận cho những cô gái mạnh mẽ phải thương thảo với sự thật rách rưới của những chàng trai trẻ.  

Q thích nhất Athena. Bà là nữ thần của rất nhiều điều thú vị: trí tuệ, mưu kế, toán học, chiến lược, và cả chiến thắng trong các cuộc chiến. (Chiến tranh có thể thuộc về Ares, nhưng chiến thắng thuộc về Athena). Sức mạnh của bà không đến từ sấm chớp, sức mạnh tàn bạo hay thanh gươm dính máu, mà từ trí thông minh, suy nghĩ và hành động. Poseidon xuyên thủng mặt đất với một thanh gươm; còn Athena thì nhẹ nhàng gieo một hạt giống.

Tôi hiểu được tình yêu của Q đối với những câu chuyện Hy Lạp cổ đại. Thần thoại mê hoặc chúng ta vì chúng đưa ra những lời giải thích. Thế giới đã (và đang) là một nơi khó sống, với sự vô nghĩa và tàn bạo, và chúng ta là những sinh vật có ý thức. Tại sao người Attica hay phải chịu lũ lụt? Poseidon đã nổi giận vì không giành được Athens. Làm thế nào mà thế giới trở thành như chúng ta thấy ngày nay? Hãy kể câu chuyện về Gaia và Uranus và các titan. Những người mà chúng ta yêu thương sẽ đi về đâu khi họ chết đi? Chúng ta được an ủi phần nào vì họ không mất đi mãi mãi; họ chỉ chờ chúng ta đi qua dòng sông tăm tối để đến với họ. Liệu phụ nữ và các cô gái có thể mạnh mẽ như đàn ông và các cậu con trai hay không? Hãy xem lại cái tên của thành phố vĩ đại kia. Liệu có thể sống trong một thế giới mà bị phụ thuộc vào những vị thần nhỏ bé nhưng quyền năng - những người có thể ở bên cạnh bạn sau những di tích? Hy vọng thế - sự thay thế vô nghĩa và trống rỗng dường như không thể chịu đựng được.

Thế giới có thể vẫn khó sống và những lời giải thích của chúng ta thì đã thay đổi (giờ thì ai cũng nghĩ rằng vũ trụ được hình thành từ một vụ nổ ầm ĩ) nhưng sự cần thiết phải giải thích bằng những câu chuyện thì không. Chúng ta là những người kể chuyện và người tiêu dùng cũng yêu thích những nhân vật huyền thoại, người Hy Lạp cổ đã biết cách tạo nên chúng: đố kỵ, dũng mãnh, hão huyền, trong những cuộc chiến dai dẳng. Chúng ta có thể không còn tin rằng Hades cai quản địa ngục còn Zeus thống trị trên đỉnh Olympus, nhưng chúng ta sẽ luôn chấp nhận những câu chuyện.

Ngày hôm sau, chúng tôi bắt taxi tới đền thờ Poseidon tại một thị trấn tên là Sounion cách Athens 1 giờ đi. Anh tài xế chỉ biết chút tiếng Anh, nên chuyến đi khá dài và im lặng, lần theo những dòng chữ cổ của các thị trấn nhỏ dọc bờ biển. Đó là một ngày mát trời, bờ biển thì vắng tanh. M nghe nhạc. Q thì cố gắng để không bị say xe. Mẹ của chúng ngồi giữa trong tư thế sẵn sàng chăm sóc. Tôi ngồi trên với tài xế. Có vẻ anh ta nghĩ rằng những resort mới lấp lánh bên bờ biển này sẽ hấp dẫn chúng tôi, và anh ta nói về mỗi cái mà chúng tôi đi qua.

Rồi cũng tới. Đền Poseidon tọa lạc trên một vách đá nhìn ra phía biển Aegean, không có gì ngoài sự tráng lệ tuyệt mỹ. Vì đây không phải là nước Mỹ, chúng tôi có thể đi thẳng tới vách đá mà không có lan can hay dây thừng bảo vệ. (Chúng tôi có thể dễ dàng hiến thân mình cho Poseidon nếu chẳng may sảy chân). Ngôi đền hiện nay chỉ còn là hàng dài những chiếc cột không còn khép kín, nhưng đủ cho chúng ta thấy được cuộc gặp hoàn hảo giữa nó và những câu chuyện. Nếu tôi là thần biển (hay một vị thần nào đó tương tự), tôi sẽ muốn tượng đài của tôi được dựng ngay tại đây, như thế này. Chúng tôi đi bộ trên những con đường, nhặt vài hòn đã cho vào túi, và lặng ngắm nước biển dội sóng không ngừng vào các vách đá. M và Q leo lên tàn tích của một bức tường đá khổng lồ từng là thành của một thị trấn nhỏ nơi mà hơn 2000 năm trước những con tàu buôn đã được làm đi làm lại. Chúng tôi đùa rằng có thể Athena sẽ chẳng thể nào chiến thắng được Poseidon nếu ngôi đền này đạt giải khuyến khích.

Tôi đứng một lúc bên bờ biển và ngạc nhiên rằng một đường thẳng có thể được rút ra từ nơi này qua nhiều năm tới tận đáy kệ sách trong phòng của Q.

Hoặc có thể điều đó chẳng đáng ngạc nhiên. Sau cùng, bọn trẻ, bắt đầu bằng những câu chuyện được kể bởi cha mẹ chúng - người cha sắp mất mọi thứ, người mẹ thì chưa bao giờ trải qua một trận chiến mà bà không muốn - và biểu lộ ra như một người được sống trong những câu chuyện thần thoại viết lại chúng, để tự giải thích về toàn bộ sự sống. Tôi đã kể câu chuyện của Q, như tôi đang làm bây giờ, rất nhiều lần. Trong câu chuyện của tôi, Q thực sự giống như Athena - mạnh mẽ, thông minh, tập trung, siêng năng, và một chút bướng bỉnh, điềm tĩnh. Tôi muốn câu chuyện này được lan truyền, và được những người gặp nó kể đi kể lại. Tôi muốn nó tin vào điều đó, để nó có thể biến thành sự thực.
Và rồi cha mẹ sẽ trở thành những câu chuyện được kể bởi lũ trẻ. Tôi trăn trở một điều rằng khi tôi và vợ tôi đi từ sự thật vào thần thoại, Q sẽ nói gì trước đài tưởng niệm của chúng tôi.

Anh tài xế ra dấu rằng đã đến lúc phải đi, và chúng tôi gửi lại cái nhìn cuối cùng để những ký ức được lưu lại. Tôi biết ơn về một chút yên lặng ở phía trước. Tôi muốn nghĩ về việc làm sao để kể cho bạn mọi thứ trên đời.

-----------

Bài dịch trên trang Medium.com:
https://medium.com/@dorsalstream/how-to-tell-a-story-60ab982a1b95?OC=true

Hy vọng nhận được sự góp ý từ bạn đọc.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Thuyết vạn vật: Những quan niệm về vũ trụ

Vào năm 340 TCN, Aristotle trong cuốn sách của ông "Trên thiên đường" (On the Heavens) đã đưa ra được hai luận cứ về việc ông tin rằng Trái Đất giống một quả bóng tròn hơn là một cái đĩa phẳng. Đầu tiên, ông nhận ra rằng, phần che khuất của mặt trăng là do Trái Đất đi dần đến giữa mặt trời và mặt trăng. Bóng của Trái Đất trên mặt trăng luôn luôn tròn, điều này chỉ đúng khi Trái Đất có hình cầu. Nếu Trái Đất là một cái đĩa phẳng, thì bóng của nó phải kéo dài và có hình elip, trừ khi phần bị che khuất luôn luôn xảy ra ở thời điểm mặt trời chiếu thẳng vào trung tâm chiếc đĩa.


Thứ hai, người Hy Lạp cổ đã biết được từ những chuyến đi của họ rằng sao Bắc Đẩu xuất hiện thấp hơn trên bầu trời khi được nhìn từ phía nam so với khi được nhìn từ những vùng phía bắc. Từ sự khác nhau giữa vị trí xuất hiện của sao Bắc Đẩu tại Hy Lạp và Ai Cập, Aristotle đã đưa ra một giả định rằng khoảng cách xung quanh Trái Đất là 4 trăm nghìn stadia. Không biết chính xác độ dài của một stadia là bao nhiêu, nhưng có thể vào khoảng 100 yards. Điều này khiến cho giả định của Aristotle gấp đôi con số được chấp nhận hiện nay.

Người Hy Lạp cổ thậm chí còn đưa ra một luận cứ thứ ba rằng Trái Đất hình cầu, cho lý do tại sao người ta lại thấy cánh buồm của một con thuyền trước tiên khi nó đi qua đường chân trời và sau đó mới thấy thân tàu. Aristotle nghĩ rằng Trái Đất đứng im và mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và các ngôi sao chuyển động theo quỹ đạo tròn xung quanh Trái Đất. Ông tin vào điều này bởi vì ông cảm thấy, theo những lý do huyền bí nào đó, rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và chuyển động tròn là chuyển động hoàn hảo nhất.

Quan niệm này được phát triển bởi Ptolemy vào thế kỷ đầu tiên sau công nguyên thành một mô hình vũ trụ học hoàn chỉnh. Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, bao quanh bởi 8 khối cầu bao gồm mặt trăng, mặt trời, các ngôi sao và 5 hành tinh được biết đến vào thời điểm đó: sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ. Các hành tinh này tự chúng chuyển động theo những vòng tròn nhỏ gắn với những khối cầu tương ứng giải thích cho đường đi phức tạp được quan sát của chúng trên bầu trời. Ngoài cùng quả cầu mang theo cái gọi là những ngôi sao cố định mà luôn luôn ở cùng một vị trí tương đối với mỗi cái khác nhưng chúng cùng xoay trên bầu trời. Những gì xa hơn cả quả cầu cuối cùng thì không bao giờ thấy rõ, nhưng chắc chắn rằng nó không phải là phần vũ trụ quan sát được của con người.

Mô hình của Ptolemy cung cấp một hệ thống chính xác đáng tin cậy cho việc tiên đoán vị trí của những thiên thể trên bầu trời. Nhưng để tiên đoán những vị trí này một cách chính xác, Ptolemy phải làm một giả định rằng mặt trăng đi theo đường mà có lúc mang nó gần Trái Đất hơn tới 2 lần ở những thời điểm khác nhau. Và điều đó có nghĩa là mặt trăng có lúc xuất hiện to gấp 2 lần bình thường. Ptolemy nhận thức được lỗ hổng này tuy nhiên mô hình của ông vẫn được chấp nhận dù nó chưa mang tính phổ quát. Nó phù hợp với Kinh Thánh và được chấp nhận bởi nhà thờ Thiên Chúa như là bức tranh của vũ trụ. Nó có lợi thế lớn là để lại nhiều không gian bên ngoài của những ngôi sao cố định cho thiên đường và địa ngục.

Tuy nhiên, một mô hình đơn giản hơn, được công bố bởi một linh mục người Hà Lan vào năm 1514, Nicholas Copernicus. Đầu tiên, vì sợ bị buộc tội dị giáo, Copernicus đã công bố mô hình của ông một cách bí mật không công khai danh tính. Ý tưởng của ông là mặt trời đứng cố định ở trung tâm còn Trái Đất và các hành tinh khác thì chuyển động theo quỹ đạo tròn quanh mặt trời. Đáng buồn cho Copernicus, gần một thế kỷ trôi qua trước khi ý tưởng của ông được đưa ra một cách nghiêm túc. Sau đó 2 nhà thiên văn học - Johannes Kepler (Đức) và Galileo Galilei (Italy) - đã bắt đầu công khai ủng hộ lý thuyết của Copernicus, mặc dù thực tế rằng các quỹ đạo mà ông tiên đoán hoàn toàn khong trùng khớp với những gì họ quan sát được. Cái chết của lý thuyết Aristotelian-Ptolemaic xảy ra vào năm 1609. Vào năm đó Galileo đã bắt đầu quan sát bầu trời đêm với một chiếc kính thiên văn, thiết bị chỉ vừa mới được phát minh.

Khi ông quan sát sao Mộc, Galileo thấy rằng nó đi kèm với một vài vệ tinh nhỏ, hoặc là các mặt trăng quay quanh nó. Điều này cho thấy rằng không phải cái gì cũng trực tiếp quay quanh Trái Đất như Aristotle và Ptolemy đã nghĩ. Dĩ nhiên, vẫn có thể tin rằng Trái Đất  đứng im ở trung tâm của vũ trụ, nhưng những vệ tinh của sao Mộc chuyển động theo những đường hết sức phức tạp quanh Trái Đất, chứng tỏ rằng chúng có quỹ đạo quanh sao Mộc. Tuy nhiên, lý thuyết của Copernicus vẫn đơn giản hơn nhiều.

Ở cùng thời điểm, Kepler đã sửa đổi lý thuyết của Copernicus, cho rằng các hành tinh không chuyển động theo quỹ đạo tròn mà theo hình elip. Ngày nay những tiên đoán này trùng khớp với các quan sát. Theo như Kepler đã quan tâm, quỹ đạo elip chỉ đơn thuần là một giả thuyết - và khá mâu thuẫn bởi vì đường elip rõ ràng là kém hoàn hảo hơn đường tròn. Được khám phá hầu hết một cách ngẫu nhiên, rằng quỹ đạo elip trùng khớp với những quan sát, ông vẫn không thể chứng minh được quan niệm của mình rằng các hình tinh được tạo nên để quay quanh mặt trời bởi từ trường.

Một sự giải thích khác được đưa ra nhiều năm sau đó, vào năm 1687, khi Newton công bố tác phẩm "Principis Mathematica Naturalis Causae" (Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên). Đây có lẽ là công trình đơn lẻ quan trọng nhất từng được công bố trong ngành khoa học vật lý. Trong đó, Newton không chỉ đưa ra lý thuyết về việc các vật thể chuyển động trong thời gian và không gian như thế nào, mà còn phát triển toán học cần thiết cho việc phân tích những chuyển động đó. Ngoài ra, Newton còn đưa ra định đề về luật vạn vật hấp dẫn. Luật này nói rằng mỗi vật thể trong vũ trụ đều bị hấp dẫn về phía vật thể khác bởi một lực mạnh hơn, vật thể càng lớn và càng gần nhau hơn. Đó là cùng một lực dẫn tới việc các vật thể đều rơi xuống mặt đất. Câu chuyện Newton bị quả táo rơi trúng đầu hầu như là ngụy tạo. Tất cả những gì Newton từng nói là ý tưởng về trọng lực đến với ông khi ông ngồi trong tư thế chiêm nghiệm, và khiến cho quả táo rơi xuống.

Newton tiếp tục cho thấy rằng, theo như quy luật ông tìm ra, trọng lực dẫn đến việc mặt trăng di chuyển theo quỹ đạo hình elip xung quanh Trái Đất và Trái Đất cũng như các hành tinh khác đi theo đường elip xung quanh mặt trời. Mô hình Copernicus đã bác bỏ quả cầu thiên thể của Ptolemy, và với họ ý tưởng rằng vũ trụ có một ranh giới tự nhiên. Những ngôi sao cố định không xuất hiện để thay đổi vị trí tương đối như Trái Đất quay quanh mặt trời. Do đó nó trở nên tự nhiên để đưa ra giả thiết rằng các ngôi sao cố định đó là những vật thể giống như mặt trời của chúng ta nhưng xa hơn. Điều này làm giấy lên một vấn đề. Newton nhận ra rằng, theo như lý thuyết về lực hấp dẫn, thì các ngôi sao lẽ ra phải hấp dẫn lẫn nhau; bởi vậy dường như chúng không thể giữ nguyên trạng thái bất động. Liệu chúng có thể rơi vào nhau tại một điểm nào đó không?

Trong một bức thư năm 1691 gửi tới Richard Bently, một nhà tư tưởng hàng đầu khác cùng thời, Newton đã đưa ra luận cứ rằng điều này chỉ thực sự xảy ra nếu số lượng ngôi sao trong vũ trụ là có hạn. Nhưng mặt khác, ông kết luận rằng nếu có vô số các ngôi sao phân tán ít nhiều có sự thống nhất trong không gian vô tận., điều này sẽ không xảy ra bởi vì sẽ không có bất kỳ điểm trung tâm nào cho chúng rơi xuống. Lập luận này là minh chứng cho những cạm bẫy mà con người có thể gặp phải khi nói về sự vô tận.

Trong một vũ trụ vô tận, tất cả các điểm đều có thể được xem như là trung tâm vì chúng có vô số các ngôi sao ở các phía. Cách tiếp cận chính xác, chỉ được thừa nhận rất lâu sau đó, đó là xem xét trường hợp hữu hạn mà trong đó các ngôi sao đều hút nhau. Và người ta thắc mắc mọi thứ sẽ thay đổi như thế nào nếu có thêm những ngôi sao phân tán một cách thống nhất ở ngoài khu vực này. Theo như định luật của Newton, các ngôi sao được thêm vào sẽ không tạo ra sự khác biệt nào đến những ngôi sao cũ, và bởi vậy các ngôi sao vẫn sẽ rơi xuống nhanh như thường. Chúng ta có thể thêm bao nhiêu ngôi sao tùy thích, thì nó vẫn luôn tự rơi xuống chính nó. Ngày nay chúng ta đã biết rằng có thể có một mô hình tĩnh vô hạn của vũ trụ nơi mà luôn tồn tại lực hấp dẫn.

Trong một phản chiếu thú vị về xu hướng chung của tư tưởng trước thế kỷ 20 rằng không ai biết được vũ trụ đang mở rộng ra hay thu hẹp lại. Nhìn chung người ta chỉ tin rằng vũ trụ tồn tại mãi mãi trong một trạng thái không đổi hoặc là nó được tạo ra ở một thời điểm hữu hạn trong quá khứ, ít nhiều như chúng ta quan sát được ngày hôm nay. Một phần, điều này cũng có thể là do xu hướng của con người muốn tin vào những sự thật vĩnh cửu cũng như sự thoải mái mà họ tìm thấy trong tư tưởng mà thậm chí họ có thể già rồi chết đi, nhưng vũ trụ thì vẫn không thay đổi.

Ngay cả những người công nhận định luật vạn vật hấp dẫn của Newton cho thấy rằng vũ trụ có thể không đứng im cũng không nghĩ rằng nó còn có thể mở rộng. Thay vào đó, họ cố gắng thay đổi định luật đó bằng cách khiến cho lực hấp dẫn đẩy ra ở những khoảng cách rất xa. Điều này không ảnh hưởng nhiều đến những tiên đoán của họ về sự chuyển động của các hành tinh. Nhưng nó sẽ cho phép một sự phân tán vô hạn của các ngôi sao nhằm duy trì sự cân bằng, cùng với các lực hấp dẫn giữa các ngôi sao gần nhau được cân bằng bởi lực đẩy từ những ngôi sao ở xa hơn.

Tuy nhiên, ngày nay chúng ta tin rằng sự cân bằng đó là điều không chắc chắn. Nếu các ngôi sao ở một số nơi tiến gần lại một chút so với ngôi sao khác, lực hấp dẫn giữa chúng sẽ mạnh hơn và sẽ chiếm ưu thế hơn so với lực đẩy. Điều này có nghĩa là những ngôi sao sẽ tiếp tục tiến gần về phía nhau. Hay nói cách khác, nếu ngôi sao ở xa hơn, lực đẩy cũng sẽ chiếm ưu thế hơn và khiến chúng ra xa hơn nữa.

Một phản đối khác với việc vũ trụ đứng im vĩnh cửu được cho là của triết gia người Đức Heinrich Olbers. Thực tế, những người cùng thời với Newton đều nhận ra vấn đề này, và bài viết của Olbers năm 1823 không phải lần đầu tiên đưa ra những luận cứ hợp lý cho vấn đề này. Tuy nhiên đó là bài viết đầu tiên được công nhận rộng rãi. Một khó khăn nữa là trong vũ trụ đứng im vĩnh cửu thì hầu như mỗi đường mỗi cạnh đều đều kết thúc trên bề mặt của một ngôi sao. Bởi vậy mà chúng ta nghĩ rằng bầu trời lúc nào cũng sáng, ngay cả vào ban đêm. Lập luận ngược của Olbers chỉ ra rằng ánh sáng từ những ngôi sao ở xa sẽ bị mờ đi bởi vật chất can thiệp. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra, thứ vật chất can thiệp đó cuối cùng sẽ nóng lên cho đến khi nó phát sáng như những ngôi sao.

Cách duy nhất để tránh khỏi kết luận rằng toàn bộ bầu trời đêm lẽ ra phải sáng như bề mặt của mặt trời đó là nếu những ngôi sao không sáng mãi mà chỉ sáng ở một khoảng thời gian nhất định trong quá khứ. Trong trường hợp đó, vật hấp thụ có thể chưa nóng lên, hoặc ánh sáng từ những ngôi sao xa chưa tiến được tới chúng ta. Và điều đó mang đến cho chúng ta câu hỏi rằng đâu là nguyên nhân khiến cho các ngôi sao phát sáng ngay từ đầu.

Khởi thủy của vũ trụ

Khởi thủy của vũ trụ, tất nhiên, đã được tranh cãi trong một thời gian dài. Theo như những quan niệm vũ trụ học đầu tiên trong truyền thống người Do Thái, Cơ Đốc, Hồi Giáo, vũ trụ bắt đầu ở một thời điểm xác định và không quá xa trong quá khứ. Một luận cứ cho sự khởi đầu này đó là cảm giác cần thiết phải có một nguyên nhân đầu điên để giải thích cho sự tồn tại của vũ trụ.

Một luận cứ khác được đưa ra bởi thánh Augustine trong cuốn sách của ông, "Thành phố của Chúa" (The City of God). Ông chỉ ra rằng sự văn minh đang phát triển, và chúng ta nhớ được ai là người thực hiện hay phát triển đó. Do vậy con người, và có lẽ là cả vũ trụ, không thể tồn tại lâu như thế. Nếu không thì chúng ta đã có thể phát triển hơn những gì chúng ta có.

Theo như Sách Sáng Thế, thánh Augustine đã chấp nhận một ngày vào năm 5000 trước Công Nguyên là ngày bắt đầu của vũ trụ. Thú vị là nó không quá xa so với thời điểm kết thúc Kỷ Băng Hà cuối cùng, khoảng 10000 năm trước Công Nguyên, khi mà nên văn minh mới thực sự bắt đầu. Mặt khác, Aristotle và phần lớn các nhà triết học Hy Lạp cổ, không thích quan niệm về sự hình thành vũ trụ hầu hết được tạo nên bởi Chúa Trời. Do đó họ tin rằng loài người và thế giới tồn tại xung quanh họ sẽ tồn tại, mãi mãi. Họ đã xem xét luận cứ về sự phát triển, đã được mô tả trước đó, và trả lời bằng cách có những trận lũ lụt định kỳ hoặc những thảm họa nào đó liên tục đưa loài người về điểm khởi đầu của văn minh.

Khi hầu hết mọi người đều tin rằng vũ trụ về cơ bản là tĩnh và không thay đổi, thì nghi vấn về việc nó có bắt đầu hay không mới thực sự là vấn đề của thần học hay siêu hình học. Chúng ta có thể giải thích cho những gì quan sát được bằng cả hai cách. Vũ trụ tồn tại vĩnh cửu, và nó cũng được đặt trong một chuyển động ở một thời gian nhất định theo một cách như thể là nó tồn tại mãi mãi. Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã tiến hành một cuộc quan sát dưới mặt đất cho thấy rằng dù bạn nhìn ở bất cứ đâu, các ngôi sao xa vẫn luôn di chuyển nhanh chóng ra xa khỏi chúng ta. Hay nói cách khác, vũ trụ đang mở rộng dần. Điều này có nghĩa là lúc ban đầu các vật thể sẽ không gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời điểm khoảng mười hoặc hai mươi nghìn triệu năm trước đây khi mà chúng ở chính xác một chỗ.

Phát kiến này cuối cùng cũng đã đưa ra câu hỏi về nguồn gốc của vũ trụ vào lĩnh vực khoa học. Những quan sát của Hubble cho thấy có một thời điểm được gọi là vụ nổ lớn (big bang) khi vũ trụ còn vô cùng nhỏ bé và dày đặc. Nếu có những sự kiện nào khác xảy ra sớm hơn thời điểm này, thì chúng cũng không ảnh hưởng gì đến những gì xảy ra ở thời điểm hiện tại. Sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua bởi vì sẽ không có kết quả quan sát nào cả.

Chúng ta có thể nói rằng thời gian có sự khởi đầu từ vụ nổ lớn, theo nghĩa đơn giản là thời gian trước đó không thể xác định được. Cũng nên nhấn mạnh rằng sự khởi đầu về thời gian này rất khác so với những gì được xem xét trước đây. Không có một sự cần thiết vật chất nào cho sự khởi đầu. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng Chúa đã tạo ra vũ trụ ở bất kỳ thời điểm nào trong quá khứ. Mặt khác, nếu vũ trụ mở rộng ra, có thể có lý do để giải thích cho việc tại sao vũ trụ phải có sự bắt đầu. Chúng ta vẫn có thể tin rằng Chúa tạo ra vũ trụ ngay từ vụ nổ lớn. Ngài thậm chí còn có thể đã tạo ra nó ở một thời điểm sau đó theo một cách khiến nó trông như thể là đã có một vụ nổ lớn. Một vũ trụ mở rộng không thể ngăn cản đấng sáng thế, nhưng nó đặt ra những giới hạn khi Ngài có thể đã thực hiện công việc của mình.

--------

Bài dịch phần 1 "Thuyết vạn vật" của Stephen Hawking, có thể còn nhiều thiếu sót, hy vọng nhận được góp ý từ bạn đọc.
Bản gốc:

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Câu chuyện dòng sông


Tất Đạt là một chàng trai Bà La Môn đức hạnh với trí thông minh tuyệt vời, chàng được sinh ra để trở thành một người Bà La Môn khả kính, được mọi người trọng vọng và sống một cuộc sống trong nhung lụa, ở trên tất thảy mọi người. Nhưng chàng lại không cảm thấy hạnh phúc, chàng hoài nghi cả chính cha chàng, một người "thánh thiện và thông thái", nghi ngờ những giáo lý, học thuyết về con đường đi tới sự toàn thiện. Đó chính là lý do khiến chàng rời bỏ dòng dõi quý tộc, rời bỏ người cha mà chàng hết mực tôn kính để trở thành một ông thầy Sa-môn khổ hạnh, đi khất thực khắp nơi và tìm ra con đường diệt ngã. Chàng học được cách suy tư, đợi chờ và nhịn đói, dửng dưng với cao lương mĩ vị, ái tình dục lạc. Những tưởng chàng đã đạt được điều chàng mong muốn bấy lâu nay, nhưng cái ngã vẫn luôn thường trực trong chàng, chưa bao giờ nó biến mất, chưa bao giờ chàng hoàn toàn chế ngự được nó. Rồi đến một ngày, khi Thiện Hữu - người bạn thân nhất của chàng rời bỏ chàng để đi theo Đức Phật Cồ Đàm, chàng cũng rũ bỏ hình ảnh người hành khất Sa Môn khổ hạnh. Chàng gặp Kiều Lan, một người kỹ nữ xinh đẹp nhất vùng, đã giúp chàng trở thành một thương gia giàu có và dạy chàng những bài học về tình yêu, tình dục, về trái tim người phụ nữ. Tất Đạt lao vào guồng quay ấy như một con thiêu thân dù biết rằng những thứ phù phiếm sẽ lại khiến chàng đau khổ, dằn vặt. Chàng trở thành một phàm nhân như bao người khác và sống một cuộc sống thế tục, lao vào những canh bạc, chàng quên cả cách suy tư, đợi chờ và nhịn đói như chàng đã từng. Chàng không thể đợi chờ và nhịn đói như trước được nữa. Chàng trở nên cáu bẳn và thù ghét chính bản thân mình. Thế rồi một ngày chàng lại ra đi. Chàng gặp lại người lái đó Vệ Sử năm xưa đã đưa chàng qua sông. Và Tất Đạt, giờ đây trở thành một người lái đò. Thật tình cờ, một ngày chàng chở những môn đệ của Đức Cồ Đàm qua sông vì nghe tin Đức Phật sắp nhập niết bàn, trong đó có cả Kiều Lan và điều kỳ diệu là nàng còn mang tới cho chàng một đứa con trai. Tuy nhiên, khi chưa kịp lên thuyền thì nàng bị một con rắn độc cắn vào chân, và tất nhiên, người cuối cùng nàng nhìn thấy không phải là Đức Phật, mà là Tất Đạt, điều đó cũng khiến nàng không còn gì hối tiếc trước khi từ giã cõi đời. Buồn vì cái chết của Kiều Lan, nhưng đổi lại, nàng đã để lại cho chàng một đứa con trai. Niềm hân hoan sung sướng chưa được bao lâu, Tất Đạt lại rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng của cuộc đời méo mó. Đứa con trai không nhận chàng, nó đã quen với cuộc sống giàu sang, vô lo vô nghĩ và không thể chịu được cảnh sống lang bạt, nghèo túng như cha nó. Chàng đã cố gắng cảm hóa nó bằng tình thương của một người cha, nhưng hoàn toàn vô ích. Một Tất Đạt với trí thông minh siêu phàm, từng biết suy tư, đợi chờ và nhịn đói, khinh thường mọi hỉ nộ ái ố của đời sống thế tục, nay lại cảm thấy khổ sở với thứ tình yêu điên cuồng đó bất chấp việc nó chửi rủa, lăng mạ chàng như một kẻ khốn nạn. Cuối cùng nó vẫn quyết định bỏ chàng mà đi, không những thế, nó còn cướp đi tất cả số tài sản mà chàng và Vệ Sử đã kiếm được. Vết thương lòng trong chàng mỗi lúc một lớn và chàng không còn cảm thấy ý nghĩa gì của sự sống nữa, thì dòng sông lại dạy chàng một bài học. Dòng sông vẫn chảy, như đang cười nhạo chàng. Chàng thấy mình như một đứa trẻ. Chàng nhớ lại hình ảnh người cha tội nghiệp lúc không thể khuyên bảo đứa con ngoan cố từ bỏ ý định đi theo những vị thầy Sa Môn khắc khổ. Chàng lắng nghe dòng sông và dần cảm nhận được nỗi yêu thương vạn vật. Vậy là không còn một ngóc ngách nào của đời sống mà Tất Đạt chưa từng trải qua, lúc thì trong hình ảnh một chàng trai Bà La Môn khôi ngô, tuấn tú, giỏi giang, lúc thì trong bộ dạng của một người tu hành đi khất thực khắp nơi, lúc lại trở thành một thương nhân giàu có với xung quanh là tiền bạc, của cải và người đẹp để rồi cuối cùng nhận ra người thầy lớn nhất cuộc đời mình chỉ là một dòng sông mà thôi.

------------

Chẳng phải Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã hành hương qua không biết bao nhiêu vùng đất để cuối cùng giác ngộ ngay chính dưới gốc cây bồ đề đấy sao? Con đường diệt dục, diệt khổ, diệt ngã, thức tỉnh để thoát khỏi kiếp luân hồi phải trải qua biết bao thăng trầm, mất mát của cuộc sống. Nhà văn người Nhật Bản Haruki Murakami từng viết trong cuốn "Tsukuru Tazaki không màu và những năm tháng hành hương": “Dù có nông cạn và bằng phẳng đến đâu, cuộc đời này cũng đáng để sống”.  Cuốn sách cũng làm tôi nhớ đến một câu nói của Trịnh Công Sơn: "Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa". Có lẽ, mối người sẽ có một cảm nhận khi đọc "Câu chuyện dòng sông" của Hesse, người bi quan thì chỉ thấy đau khổ, tuyệt vọng, người lạc quan sẽ cảm nhận được hương sắc tuyệt vời của cuộc sống, của "trần gian và mộng đời bất tuyệt".

Trích dẫn:

1. Tất Đạt quen biết nhiều vị Bà La Môn đáng kính, nhất là cha chàng, một người thánh thiện, thông thái và được quý trọng. Cha chàng thật đáng kính phục với phong độ trầm tĩnh uy nghi. Ôn sống một đời sống tốt đẹp, lời nói thì khôn ngoan, tư tưởng thì thanh cao, tế nhị - nhưng cả đến ông ta, một người biết nhiều như thế, ông ta sống có hạnh phúc chăng? Có được bình an chăng? Ông lại không liên tục tìm đến nguồn với cơn khát không bao giờ được thỏa mãn, đến những cuộc tế thần, hay tìm đến sách vở và những cuộc luận đàm của dòng Bà La Môn đấy hay sao? Tại sao cha, người không có lỗi lầm ấy, phải rửa sạch tội lỗi và ráng sức tẩy mình mỗi ngày? Thế thì linh hồn không có ở trong cha hay sao? Nguồn suối không có sẵn trong chính tâm ông sao? Người ta phải tìm thấy nguồn ở ngay trong tự thân mình, phải chiếm hữu nó. Mọi việc khác đều là mò mẫm sai lầm.

2. Con sông có ở khắp nơi cùng một lúc, ở nguồn cũng như ở cửa sông, ở thác, ở dòng sông, ở đại dương và ở núi, khắp nơi, và với nó chỉ có hiện tại, không có bóng dáng của quá khứ cũng như vị lai.

3. Sự khôn ngoan không thể truyền lại cho kẻ khác. Trí tuệ mà một người hiền triết truyền lại luôn luôn nghe có vẻ điên rồ.

4. Trong mọi sự thật, điều ngược lại cũng đúng không kém.

5. Không bao giờ một sự việc lại thuần khổ hay thuần lạc, không bao giờ một người lại là thuần thánh thiện hay thuần tội lỗi; chỉ dường như thế bởi vì chúng ta mắc phải một ảo tưởng rằng thời gian là một cái gì có thực... Đức Phật hiện hữu trong kẻ  trộm cướp và tay bạc bịp, kẻ trộm cướp hiện diện trong người Bà La Môn.

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Chủ nghĩa tối giản - bí quyết để sống hạnh phúc hơn

Nhật Bản luôn là một quốc gia có tần suất động đất, sóng thần cao nhất thế giới gây ra những thiệt hại vô cùng lớn về người và của. Sau những mất mát đó, người ta dần nhận ra sở hữu quá nhiều vật chất không phải là thứ đem lại hạnh phúc và cuộc đời thì quá ngắn ngủi để ta có thể tiêu hết số tiền mình kiếm được một cách mãn nguyện nhất. Một vài năm gần đây, một phong cách sống tối giản có tên là Danshari đã nhanh chóng trở thành một phong trào trong giới trẻ Nhật Bản và dần lan rộng ra nhiều quốc gia khác. Một căn phòng của người theo đuổi lối sống Danshari điển hình hầu như trống trơn, chỉ có một chiếc giường, một chiếc tủ với vài ba bộ quần áo, góc bếp với những vật dụng hết sức đơn giản, còn lại tất cả thông tin, dữ liệu có thể thu gọn lại trong một chiếc laptop hoặc điện thoại di động.

Chủ nghĩa tiêu dùng: tại sao chúng ta mua sắm nhiều hơn nhưng lại ít hạnh phúc hơn?

Ở rất nhiều quốc gia đã và đang phát triển, sự bành trướng của chủ nghĩa tiêu dùng khiến con người sống thiên về vật chất và sở hữu. Người ta cho rằng có càng nhiều tiền, sở hữu càng nhiều đồ đạc thì càng hạnh phúc. Suy cho cùng, đồ đạc là thứ mà con người sinh ra không mang đến, khi chết không mang đi nhưng tại sao ta lại luôn bị ám ảnh bởi những thứ đó để rồi chúng quay ngược lại sở hữu chúng ta?

Hàng ngày, chúng ta bị bủa vây bởi cả tấn thông tin, quảng cáo đến từ các phương tiện truyền thông đại chúng, chỉ cần một vài "hiệu ứng chim mồi" là bạn đã có thể ngoan ngoãn xòe tiền của mình ra để mang về những thứ chúng ta không thực sự cần. Đã bao giờ bạn cảm thấy hối tiếc vì đã mua một món đồ nào đó và điều tệ hơn cả là bạn đã để chúng lặp đi lặp lại rất nhiều lần ngay khi đọc được những mẩu tin khuyến mãi siêu giảm giá có vẻ hấp dẫn hay những sản phẩm thiết kế bắt mắt được mọi người săn lùng và trong đầu bạn cũng xuất hiện tâm lý mình cũng phải có một cái? Để rồi kết quả là những cuốn sách để cả năm trên kệ bám đầy bụi, những bộ quần áo không một lần được mặc bởi chính chủ nhân của nó đã trót mua vì lòng thương hại...

Thực tế, không phải cứ có nhiều tiền chúng ta mới có thói quen tiêu xài hoang phí. Ngay cả khi không dư dả cho lắm, chúng ta vẫn luôn rơi vào cám dỗ mua sắm bởi những thông tin đại hạ giá, và thay vì mua một món đồ thật sự chất lượng thì chúng ta lại có thói quen mua những thứ rẻ tiền để có cảm giác là mình mua được nhiều hơn, sở hữu nhiều đồ hơn. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến chúng ta căng thẳng, mệt mỏi và dễ trở nên cáu bẳn, khó chịu.

Trong bài viết "Hành trình 21 ngày hướng tới sự tối giản" của Joshua Fields Millburn và Ryan Nicodemus (người sáng lập trang web theminimalist.com), tác giả đã thừa nhận rằng họ không hạnh phúc ngay cả khi có thu nhập lên đến 6 con số, có nhà lầu, xe hơi và sống trong nhung lụa nhưng lại luôn thường trực sự căng thẳng, sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng. Đó chỉ là một "giấc mơ kiểu Mỹ" mà người ta luôn ngưỡng mộ nhưng không hề biết rằng đằng sau lối sống vật chất ấy là một sự trống rỗng, vô nghĩa đến tột cùng. Và sau cùng thì họ nhận ra rằng chủ nghĩa tối giản mới là con đường duy nhất khiến họ trở nên hạnh phúc, chứ không phải bằng việc sở hữu nhiều của cải, vật chất.

Lối sống tối giản có phù hợp với xã hội hiện đại?

Trong cuốn "Lối sống tối giản của người Nhật" của Fumio, tác giả đã đưa ra những phương pháp chi tiết giúp những ai muốn theo đuổi lối sống tối giản từng bước giải phóng mình khỏi sự ám ảnh bởi vật chất và cảm thấy hạnh phúc hơn. Tác giả từng là một người rất thích tích trữ đồ đạc, sưu tập đĩa CD và luôn lấp đầy khoảng trống trong căn phòng của mình bằng một "thứ" gì đó. Nhưng chính việc đó khiến anh không cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Sẽ ra sao nếu như một bản nhạc không có những khoảng lặng? Thì việc bày trí và sắp xếp đồ đạc trong phòng cũng như vậy, luôn cần có những khoảng trống để đem lại sự thư thái cho tâm hồn.

Không chỉ ở Nhật, trên thế giới có rất nhiều người nổi tiếng, tỷ phú là những người theo đuổi lối sống này. Steve Jobs là một người theo chủ nghĩa tối giản và tinh thần đó được thể hiện trong tất cả các thiết kế của Apple: tối giản nhưng vô cùng tinh tế, chỉ tập trung vào những gì người dùng muốn nhất, loại bỏ tất cả các thao tác không cần thiết để có được kết quả nhanh nhất. Danh họa Leonardo Da Vinci từng có câu nói nổi tiếng: "Simplicity is the ultimate sophistication" (tạm dịch: đơn giản chính là đỉnh cao của sự tinh tế). Đi đến tận cùng của sự đơn giản để chạm đến sự tinh tế chính là tối giản. Nếu câu nói này đúng thì Steve Jobs đã đạt được điều đó một cách hoàn hảo. Ông cũng thường xuyên xuất hiện trong các cuộc họp hoặc trên truyền hình với chiếc áo đen và quần jeans.

Mark Zuckerberg - ông chủ "gã khổng lồ" Facebook cũng từng chia sẻ rằng: "Tôi muốn cuộc sống của mình trở nên đơn giản nhất có thể. Thay vì tốn thời gian để suy nghĩ và đưa ra những quyết định phù phiếm, tôi dành năng lượng của mình để xây dựng các sản phẩm và dịch vụ tốt nhất cho cộng đồng". Chiếc áo phông xám huyền thoại dường như đã trở thành một biểu tượng bất hủ khi nhắc đến ông chủ này. Đó chính là lý do vì sao Mark luôn xuất hiện với những bộ trang phục quen thuộc như áo phông xám, hoodies và quần jeans.

Leo Babauta - người sáng lập Zen Habits và Mnmlist.com cho rằng càng là con người trong xã hội hiện đại thì càng cần đến lối sống này, kể cả ở một đất nước vốn năng động, ai cũng cần có nhà và xe hơi như Mỹ hay một đất nước tưởng như trầm lặng, yên bình nhưng lại thường xuyên xảy ra động đất, sóng thần như Nhật Bản.

Khi loại bỏ được những thứ không cần thiết, chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn cho những người mà chúng ta yêu thương, tiết kiệm được nhiều tiền hơn để làm những điều thực sự có ý nghĩa, như đi du lịch chẳng hạn.

Một số người cho rằng nếu ai cũng sống tối giản như vậy thì kinh tế làm sao phát triển được. Một số người mới biết đến chủ nghĩa tối giản cho rằng tối giản là phải vứt bỏ hết đồ đạc, chỉ được sở hữu một số lượng đồ đạc nhất định trong nhà. Thực chất, chủ nghĩa tối giản không khuyên con người ta ngừng mua sắm, mà là chỉ mua những thứ thật sự cần thiết với bản thân. Có nghĩa lý gì với một món đồ mà ta mua về nhưng lại không hề dùng đến nó?

Ở đây, tối giản không có nghĩa là sống một cách kham khổ, đạm bạc, xa lánh cõi đời mà là chọn cho mình những gì tinh hoa nhất, thiết yếu nhất để đảm bảo cho sự chất lượng của cuộc sống.

Tất nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa chuẩn nào về chủ nghĩa tối giản mà tùy vào tính chất công việc, sở thích và thói quen của mỗi người để khi thực hành lối sống tối giản, chúng ta sẽ vứt đi những thứ khác nhau. Chắc chắn rằng bạn không thể làm chuyên gia trang điểm chỉ với một thỏi son môi hay một chiếc chì kẻ mắt, không thể làm một stylist nếu chỉ suốt ngày mặc đồ đen/trắng/xám, không thể làm đầu bếp với chỉ một cái nồi cũng như không thể làm truyền thông nếu như không có đa dạng các mối quan hệ. Cũng giống như trong toán học, đâu phải chỉ 1/2 mới là phân số tối giản, còn có 3/4, 5/6... vì vậy bạn hoàn toàn có thể là người sống tối giản ngay cả khi bạn có tới 6 đứa con, vài chục bộ quần áo và một tủ giầy. Trở lại ví dụ của Steve Jobs và Mark Zuckerberg, cái mà họ quan tâm đến là công nghệ chứ không phải là thời trang, vì vậy chẳng có lý do gì để tủ quần áo của họ phải có tới vài chục bộ cả. Tối giản chỉ là một cách kiểm soát để tối ưu hóa cuộc sống mà thôi.

Vứt bỏ cũng là một nghệ thuật - không chỉ là đồ đạc

Các cuốn sách, các bài phân tích về chủ nghĩa tối giản hầu hết tập trung vào việc giúp loại bỏ tối đa đồ đạc vật chất để tận hưởng niềm vui bằng cách tạo ra những khoảng trống. Tuy nhiên, những thông điệp như "Hãy vứt hết đồ đạc đi và bạn sẽ thấy hạnh phúc" mới chỉ là bề nổi của vấn đề. Cái đem lại hạnh phúc cho con người không phải chỉ là đồ đạc, của cải vật chất mà còn là cách tư duy, công việc, các mối quan hệ, triết lý sống...

Cuộc sống này quá ngắn để chúng ta có thể san sẻ mối quan tâm của mình cho tất cả mọi thứ. Bạn hãy thử tự hỏi bản thân mình xem trong số hàng ngàn người bạn ảo trên mạng xã hội bạn thực sự tương tác với bao nhiêu người (nếu không phải để kiếm tiền)? Trong vô vàn những suy nghĩ tích cực và tiêu cực tại sao ta lại luôn để những suy nghĩ tiêu cực, những lời than phiền, trách móc xâm chiếm tâm trí mình mỗi ngày?

Chúng ta luôn sợ bị mất đi thứ gì đó là của mình. Thật ra, cũng giống như việc vứt bỏ đồ đạc, thứ đầu tiên bạn cần vứt bỏ đó chính là ý nghĩ tiếc nuối và sự biện minh rằng "biết đâu một ngày nào đó mình sẽ dùng đến nó". Trong các mối quan hệ cũng vậy, có phải chúng ta luôn cố gắng giữ liên lạc với một số người nào đó chỉ bởi chúng ta nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ cần đến họ?

Vứt bỏ những thứ "chùng chình" sẽ là cách nhanh nhất giúp chúng ta tập trung vào chuyên môn của mình và không bị xao lãng bởi những thứ khác. Đó chính là một phần trên con đường dẫn tới thành công. Vứt bỏ ở đây không chỉ là loại bỏ đi đồ đạc, mua sắm ít hơn mà còn là cắt bỏ những mối quan hệ không cần thiết (có thể là những người bạn xã giao, hoặc không có lợi cho công việc của bạn) và cả những suy nghĩ tiêu cực.

Hiện nay có rất nhiều Youtuber và Blogger trên khắp thế giới là những người sống tối giản, họ thực hiện những clip và chia sẻ những bài viết nhằm giúp cho chúng ta hình thành một số thói quen tốt, tập trung vào chất lượng của cuộc sống thay vì số lượng, tiết kiệm được cả tiền bạc lẫn thời gian.

Nếu bạn đang cảm thấy mệt mỏi vì sự phức tạp của cuộc sống này, hay cũng chính là sự phức tạp trong suy nghĩ của bản thân bạn, thì chủ nghĩa tối giản thực sự là thứ có khả năng giúp bạn thoát ra khỏi cái mớ hỗn độn đó và làm chủ cuộc sống của mình. Nhưng hãy nhớ, tối giản là một phong cách sống chứ không phải phong trào hay là một cuộc đua xem ai sở hữu ít đồ hơn.

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Chủ nghĩa tối giản và một số câu hỏi thường gặp



Dưới đây là một vài câu hỏi thường gặp về chủ nghĩa tối giản (minimalism) và người sống tối giản (minimalist) dành cho những người mới biết đến khái niệm này.

Q: Tại sao nên sống tối giản?

A: Sống tối giản là cách giúp chúng ta thoát khỏi cái mớ hỗn độn của thế giới với sự quá trớn của chủ nghĩa tiêu thụ, sở hữu vật chất, hàng đống việc phải làm cũng như các khoản nợ, phiền phức, tiếng ồn. Nhưng chúng lại chẳng có nghĩa lý gì cả. Chủ nghĩa tối giản là cách để thoát khỏi những thứ không cần thiết đó để tập trung vào những thứ thực sự quan trọng khiến cuộc sống của chúng ta ý nghĩa, có thêm niềm vui và giá trị.

Q: Chủ nghĩa tối giản là nhàm chán, chẳng có gì trong cuộc sống?

A: Đây là một quan niệm sai lầm về chủ nghĩa tối giản - cho rằng sống tối giản chẳng khác nào nhà sư, nhàm chán, khô khan và trống rỗng. Ồ, bạn nghĩ theo hướng đó cũng không sao, nhưng tôi không cho rằng đó là bản chất của chủ nghĩa tối giản. Chủ nghĩa tối giản là loại bỏ tất cả chỉ giữ lại những thứ thực sự cần thiết, dành chỗ cho niềm vui. Loại bỏ những thứ khiến chúng ta xao lãng và chúng ta có thể tạo ra điều gì đó đặc biệt. Loại bỏ đi những ràng buộc giúp chúng ta có nhiều thời gian cho những người mình yêu thương. Loại bỏ sự ồn ào giúp chúng ta yên bình từ trong tâm tưởng, suy nghĩ. Và kết quả là, chúng ta có nhiều niềm vui, hạnh phúc hơn vì đã có chỗ cho những thứ này.

Q: Sống tối giản là gì?

A: Đơn giản chỉ là loại bỏ những thứ không cần thiết hoặc không dùng đến, tạo ra một môi trường đơn giản và cuộc sống đơn giản. Đó là sống mà không bị ám ảnh bởi vật chất hay phải làm quá nhiều việc. Đó là sử dụng những thứ đơn giản, có một tủ quần áo đơn giản, giữ ít đồ và sống một cách nhẹ nhàng.

Q: Những lợi ích của chủ nghĩa tối giản?

A: Có rất nhiều lợi ích. Làm giảm stress. Đỡ tốn kém và ít nợ hơn. Ít phải dọn dẹp. Nhiều niềm vui hơn. Có thêm khoảng trống cho bạn sáng tạo, yêu thương, sự bình yên và làm những điều mang lại niềm vui. Nhiều thời gian để chăm sóc sức khỏe hơn. Lâu bền hơn. Dễ tổ chức hơn. Đây mới chỉ là bước khởi đầu.

Q: Kế hoạch của một người sống tối giản như thế nào?

A: Không có câu trả lời đơn lẻ nào cho câu hỏi này, nhưng một người sống tối giản có lẽ tập trung vào việc làm ít và có một kế hoạch ít rườm rà hơn, nhưng những gì trong kế hoạch sẽ phải là quan trọng. Một người sống tối giản có thể không có một lịch trình cụ thể nếu họ không có nhiều việc để làm mỗi ngày - thay vào đó họ sẽ sống và làm việc từng giây từng phút hoặc chỉ quyết định mỗi sáng tập trung vào một, hai thứ quan trọng.

Một người sống tối giản cũng tiết kiệm được rất nhiều thời gian vì họ có ít đồ đạc và ít sở hữu hơn. Điều đó có nghĩa là họ mất ít thời gian dọn dẹp, giữ đồ và tìm kiếm đồ. Một người sống tối giản  loại bỏ được sự xao lãng và những thứ tủn mủn cũng sẽ ít lãng phí thời gian vào những thứ đó hay quanh quẩn giữa các việc.

Nhìn chung, tất cả những điều này giúp chúng ta có nhiều thời gian hơn cho việc thư giãn, những sở thích cá nhân, sáng tạo, hay là làm những thứ hay ho.

Q: Những nguyên tắc để trở thành một người sống tối giản?

A: Chẳng có nguyên tắc nào cả. Những gì tôi gợi ý cho việc sống đơn giản không phải những điều ai đó cũng khuyến nghị, cũng không phải là cách để bạn sống tối giản. Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì bạn muốn sống đơn giản hơn mà không sở hữu quá nhiều thứ không cần thiết, không có quá nhiều đồ đạc, sự xao lãng hay lãng phí. Bạn muốn sống một cách nhẹ nhàng, bền vững, tự nhiên và không có nợ.

Q: Có cần phải ăn chay để trở thành người sống tối giản?

A: Không. Mặc dù tôi tin rằng việc ăn chay phù hợp với lối sống tối giản, bạn có thể ăn uống đơn giản giống như một động vật ăn tạp. Xin nhắc lại lần nữa là không có cách nào cả. Một người sống tối giản sẽ cố gắng ăn uống một cách tự nhiên, không chế biến quá nhiều, và không ăn quá nhiều thức ăn (như những suất ăn phô trương ở hầu hết các nhà hàng hiện nay).

Q: Tôi tin vào việc đơn giản hóa, nhưng tại sao tôi nên hết sức tiết kiệm - điều không đúng với một số ít những thứ thật sự tốt đẹp?

A: Tiết kiệm chỉ đơn giản là một cách để không chi tiêu vào những thứ không cần thiết và để dành cho những thứ cần thiết. Nếu bạn cần mua thứ gì đó, thường thì tốt hơn hết là chú ý đến chất lượng hơn là giá cả vì nó được làm tốt hơn và bền hơn. Chủ nghĩa tối giản là chất lượng hơn số lượng.
Tuy nhiên... sẽ tốt hơn khi kiểm tra xem có tốt để có một sự gắn bó với đồ đạc hay không. Đây không phải điều tôi hoàn toàn thành công - ví dụ như tôi thích chiếc Macbook của tôi - nhưng nó là thứ tôi đang phải dùng để làm việc. Tôi ít gắn bó với những thứ tôi sở hữu hơn tôi của một vài năm trước đây, và tôi khuyến nghị mọi người nên xem xét mối quan hệ của họ với những thứ vật chất, sản phẩm, và xem liệu rằng đó có thật sự là thứ họ muốn hay không.

Q: Tìm kiếm chủ nghĩa tối giản ở Mỹ thì sao - nơi mà bạn cần có xe hơi và công việc?

A: Toàn bộ trang này là về tìm kiếm chủ nghĩa tối giản trong văn hóa và xã hội Mỹ cũng như các quốc gia công nghiệp hóa khác, không chỉ ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Sự phức tạp và mong đợi xã hội ở Mỹ (và những nước công nghiệp khác) chính xác là nguyên nhân cần đến chủ nghĩa tối giản. Tất cả những lời khuyên tôi đưa ra trên trang này (và Zen Habits) đều nhằm hướng tới con người trong xã hội hiện đại.

Tôi đã sống cuộc sống của một người tối giản ở Guam, và giờ là San Francisco. Đó là vấn đề lựa chọn.

Bạn cần trở thành một người sống tối giản như tôi, hay là sống ở vùng hoang dã? Không sao cả. Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là tìm được sự đơn giản và những gì quan trọng với bạn rồi đưa ra lựa chọn hơn là chấp nhận tư duy tiêu dùng của hầu hết mọi người.

Q: Có mâu thuẫn không khi tuyên bố rằng là một người sống tối giản nhưng lại sở hữu một chiếc Mac, một căn nhà hay là có tới 6 đứa con?

A: Lại một lần nữa, không có cách nào cả. Mọi người phải tự tìm ra con đường của chính mình, và tôi thì khác với những gì người khác quan niệm về người sống tối giản. Tôi cũng chưa bao giờ tuyên bố mình hoàn hảo - tôi chỉ đang nỗ lực hướng tới sự tối giản, nhưng tôi luôn luôn có chỗ cho sự cải thiện. Tôi có những thứ không phù hợp với chủ nghĩa tối giản cho lắm, hoặc ít nhất là theo định nghĩa của những người khác. Tôi đang giải quyết vấn đề đó.

Tôi nên nói một hoặc hai từ về việc có sáu đứa con và chủ nghĩa tối giản. Có sáu đứa con không tương thích với thông điệp của tôi về việc đơn giản hóa, tiết kiệm, thu hẹp và sống xanh.

Tôi không ngụy biện -  nhưng tôi có thể giải thích cho sự mâu thuẫn này. Tôi có những đưa trẻ đó trước khi tôi thay đổi triết lý sống. Thực tế, triết lý sống của tôi giờ vẫn đang phát triển, bởi vậy tôi không thể tuyên bố là đã tin vào những thứ mà tôi tin hiện giờ, trong một thời gian rất dài. Rất nhiều điều tôi tin mới chỉ là sự phát triển gần đây.

Ví dụ nhé, chỉ mới đây tôi, tôi đã quyết định trở lại ăn chay trường (tôi từng ăn chay trường một lần, nhưng là ăn chay kiểu lacto-ovo (kiêng thịt) trong hơn 1 năm). Nhưng tôi lại sở hữu một đôi dép da - vậy tôi có vứt chúng đi không? Đó không phải là lãng phí sao? Lãng phí nhưng phù hợp với niềm tin của tôi thì có tốt hơn không? Rất khó nói.

Tuy nhiên, tôi cho rằng sẽ thật là phi đạo đức nếu vứt bỏ những đứa con của mình chỉ vì tôi tin vào sự thu hẹp. Đó là một quyết định khó khăn, nhưng tôi vẫn làm theo nó.

Kết quả của việc đơn giản hóa cuộc sống, tôi có thể tận hưởng thời gian của mình với những đứa con, và tôi phải thừa nhận rằng, chúng là điều tuyệt vời nhất dành cho tôi. Tôi không hối hận vì đã có chúng, mặc dù chúng không phù hợp với triết lý sống tối giản của tôi.

Nhìn vào mặt tích tực, tôi tin rằng thậm chí với 6 đứa trẻ - ăn chay, mua ít đồ hơn, ý thức về năng lượng, đi xe hơi ít hơn, đi các phương tiện công cộng nhiều hơn - tôi thực sự ít sử dụng ít nguồn tài nguyên hơn người bình thường ở những quốc gia phát triển (và ít hơn nhiều so với người Mỹ) - đó là theo như tính toán tổng phát thải khí nhà kính trực tuyến. Đây không phải là sự biện minh cho việc có 6 đứa con mà chỉ là một lưu ý rằng mọi thứ không hẳn tồi tệ như vậy.

Q: Tại sao anh không cho phép comment (bình luận) trên trang này?

A: Tôi đã cố ý không cho phép comment trên trang này vì một vài lý do:

1. Tôi có quản lý một vài blog khác, và có cả đống comment trên Zen Habits, do vậy việc phải quản lý comment trên một blog khác nữa là quá nhiều đối với tôi. Tôi không có thời gian, và nếu phải làm điều đó, tôi không thể làm blog này.

2. Tôi thích đối thoại với độc giả -  đó là điều khiến cho việc viết blog trở thành niềm vui - nhưng comment không phải là cách duy nhất. Tôi khuyến khích bạn phản hồi với tôi về bất cứ bài viết nào thông qua Twitter hay trên blog của bạn. Việc đối thoại như thế sẽ đỡ tủn mủn và được lan rộng hơn.

3. Tôi muốn giữ mọi thứ đơn giản trên một blog về chủ nghĩa tối giản.

Q: mnmlist.com khác với Zen Habits như thế nào?

A: À, Zen Habits là về sự đơn giản, còn mnmlist.com là về chủ nghĩa tối giản - bạn có thể thấy được sự khác biệt không?

Thật sự mà nói, mặc dù có một sự tập trung khác biệt ở đây so với Zen Habits - trang bao gồm hàng loạt những chủ đề bên cạnh sự đơn giản như năng suất làm việc, thay đổi thói quen, sức khỏe và thể dục, gia đình, tài chính, hạnh phúc, và đương nhiên, sự đơn giản.

Blog này sẽ tập trung phần lớn vào chủ nghĩa tối giản, một niềm đam mê của tôi. Không phải tất cả những người đọc Zen Habits đều dành sự quan tâm đặc biệt tới chủ nghĩa tối giản, bởi vậy tôi làm blog này cho những ai thực sự hứng thú với nó.

---------------
Bài dịch trên trang Mnmlist.com
Tác giả: Leo Babauta